1. Mở rộng đối tượng có quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch
Theo đó, khoản 1 Điều 5 dự thảo Luật Hộ tịch sửa đổi 2026 quy định cụ thể:
"Công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam, người không quốc tịch, người nước ngoài có quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác", bổ sung thêm một nhóm chủ thể hoàn toàn mới là "người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch".
2. Chuẩn hóa thời hạn giải quyết thủ tục hộ tịch là 24 giờ
Khoản 3 Điều 3 Dự thảo quy định rõ:"Đối với việc đăng ký hộ tịch mà pháp luật về hộ tịch không quy định thời hạn giải quyết thì phải được giải quyết trong 24 giờ kể từ thời điểm nhận đủ hồ sơ hợp lệ", dự thảo đã chuyển sang quy định định lượng cụ thể là "trong 24 giờ, giúp xác định rõ trách nhiệm của cơ quan giải quyết, tạo cơ sở để giám sát, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện thủ tục hành chính, hạn chế tình trạng kéo dài thời gian xử lý hồ sơ trên thực tế.
3. Thiết lập nguyên tắc "chỉ cung cấp thông tin một lần" và liên thông dữ liệu
Tại khoản 6 Điều 3 dự thảo quy định việc tăng cường đăng ký hộ tịch chủ động, liên thông thủ tục đăng ký hộ tịch với các thủ tục liên quan, bảo đảm người dân chỉ cung cấp thông tin một lần.
Khoản 7 Điều 3 tiếp tục quy định cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm chủ động khai thác dữ liệu điện tử, tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu liên quan, phù hợp với mức độ đáp ứng của cơ sở dữ liệu, không yêu cầu nộp, xuất trình hoặc tải lên giấy tờ là thành phần hồ sơ, trừ trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác.
4. Mở rộng thẩm quyền đăng ký hộ tịch không phụ thuộc nơi cư trú
Theo khoản 1 Điều 8 dự thảo, Ủy ban nhân dân cấp xã không phụ thuộc vào nơi cư trú của cá nhân đăng ký các sự kiện, thông tin hộ tịch quy định tại Điều 4 của Luật này.
5. Công nhận giá trị pháp lý của dữ liệu hộ tịch điện tử
Theo khoản 3 Điều 9 dự thảo:
"Dữ liệu hộ tịch điện tử gồm bản điện tử giấy tờ hộ tịch, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch đáp ứng các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, có giá trị như giấy tờ hộ tịch bản giấy khi thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch khác"
6. Thay đổi phương thức trả kết quả, ưu tiên bản điện tử
Về nội dung này, khoản 2 Điều 10 dự thảo quy định:
"Thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, đăng ký khai tử được trả kết quả là bản giấy và bản điện tử. Thủ tục đăng ký hộ tịch khác được trả kết quả là bản điện tử, kết quả là bản giấy chỉ trả khi người đăng ký hộ tịch có yêu cầu"
7. Bổ sung cơ chế đăng ký hộ tịch chủ động (tự động hóa)
Tại khoản 2 Điều 15 dự thảo quy định, Ủy ban nhân dân cấp xã theo sự lựa chọn của người yêu cầu đăng ký khai sinh có trách nhiệm chủ động thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em khi dữ liệu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được kết nối, chia sẻ tự động tới hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử. Khoản 2 Điều 20 quy định tương tự đối với khai tử.
8. Bổ sung tình trạng hôn nhân vào nội dung đăng ký hộ tịch
Theo đó, khoản 1 Điều 4 dự thảo quy định nội dung đăng ký hộ tịch bao gồm: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi thông tin hộ tịch; tình trạng hôn nhân; khai tử.
9. Mở rộng đáng kể phạm vi thay đổi thông tin hộ tịch
Khoản 2 Điều 19 dự thảo quy định chi tiết phạm vi thay đổi thông tin hộ tịch, bao gồm:
- Thay đổi họ, chữ đệm, tên; thay đổi thông tin về quê quán;
- Thay đổi thông tin về cha, mẹ, dân tộc;
- Cải chính thông tin hộ tịch do sai sót; bổ sung thông tin còn thiếu;
- Điều chỉnh thông tin hộ tịch khi có biến động liên quan.
10. Nâng cấp Cơ sở dữ liệu hộ tịch thành cơ sở dữ liệu quốc gia, quản lý tập trung
Theo khoản 1 Điều 24 dự thảo, cơ sở dữ liệu hộ tịch là cơ sở dữ liệu quốc gia, được xây dựng tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương, do Bộ Tư pháp quản lý.